Mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển du lịch

Mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển du lịch

00:00:00 28/03/2024
92

1. Văn hóa và vai trò của văn hóa

Cho tới nay, định nghĩa về văn hóa vẫn còn là vấn đề học thuật có những ý kiến khác nhau trong giới nghiên cứu. Cho tới những năm 90 TK XX, khi tổ chức Liên hợp quốc phát động thập kỷ phát triển văn hóa (1988-1997), Tổng giám đốc thế giới UNESCO Federico Mayor Zanagoza trong bài phát biểu Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa đã đưa ra định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – Những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” (1).

Như vậy, văn hóa là lĩnh vực rất rộng lớn của đời sống xã hội, tất cả những gì mà con người tác động vào tự nhiên làm ra sản phẩm có giá trị phục vụ mục đích sống của con người đều là văn hóa. Theo C. Mác: Văn hóa là thiên nhiên thứ hai do con người sáng tạo ra.

Nếu tiếp cận chiều kích của văn hóa trong không gian, chúng ta dễ dàng nhận ra: Văn hóa là tổng thể sản phẩm, do con người làm ra trong quá khứ có giá trị trao truyền cho thế hệ hiện nay, đó là di sản văn hóa, bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. Văn hóa là tổng thể sinh hoạt văn hóa hiện tại trong môi trường sống của con người, vận động theo quy luật của cái đẹp. Văn hóa là tổng thể các sản phẩm có giá trị của con người trải dài trong diễn trình lịch sử phát triển của con người và xã hội tạo nên những giai đoạn, thời kỳ phát triển văn hóa. Chiều sâu của văn hóa là những giá trị nhân văn, văn minh, có tầm nhân loại, có giá trị ở tầm quốc tế – dân tộc, có giá trị ở vùng miền, tộc người.

Tuyên bố của UNESCO về Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (1988-1997) đã khuyến cáo các quốc gia trên thế giới thừa nhận vai trò của văn hóa là động lực của sự phát triển con người và xã hội: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân và chính văn hóa làm cho chúng trở thành những nhân vật đặc biệt cơ bản, có lý tính, có phê phán và chân thật một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành để xem xét, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội trên bản thân (2). Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (1991), Đảng ta đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội”, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (1998) chỉ rõ: Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, kỷ cương… biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển (3).

Thập niên đầu TK XXI, nước ta đã nhận thức đầy đủ, rõ ràng hơn vai trò của văn hóa: Văn hóa là sức mạnh mềm của quốc gia trong mối quan hệ với các nước trên thế giới. “Phát triển “sức mạnh mềm” của văn hóa Việt Nam, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia trong thời gian tới”; “Văn hóa là hồn cốt, bản sắc dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn” (4).

2. Du lịch và các loại hình du lịch

Luật Du lịch của nước ta được Quốc hội thông qua năm 2017, định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” (5).

Thông báo kết luận số 179-TB/TW của Bộ Chính trị khóa VIII, ngày 11-11-1998 về phát triển du lịch trong tình hình mới đã khẳng định: Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp quan trọng (6).

Du lịch thực hiện 2 chức năng cơ bản: Chức năng kinh tế: Hoạt động du lịch đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động du lịch góp phần tăng trưởng thu nhập của quốc gia. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995-2010: “Nếu tính cả tỷ lệ GDP của ngành du lịch và các ngành dịch vụ liên quan đến hoạt động du lịch thì năm 1994 đạt 10,2%. Dự kiến năm 2000 sẽ đạt 18,6% và đến năm 2010 đạt 27% GDP của cả nước” (7). Tác giả Lưu Trần Tiêu trong bài viết Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vì sự phát triển bền vững đã đưa ra những dẫn chứng tiêu biểu về sự đóng góp của di sản đối với phát triển kinh tế: Với kết quả nổi bật trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản, bằng việc đa dạng hóa các sản phẩm du lịch và tăng cường hoạt động quảng bá, di sản văn hóa ở nước ta trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước, số lượt khách và nguồn thu từ phí tham quan năm sau đều cao hơn năm trước. Chỉ riêng 8 di sản thế giới, năm 2017 đã thu hút gần 16 triệu lượt khách trong nước và quốc tế, thu từ phí tham quan được hơn 2.500 tỷ đồng. Tuyệt đại đa số các khu di sản này đều tăng khoảng 13-22% số lượt khách và tăng khoảng 14-27% tiền thu phí tham quan, trong đó có 2 di sản tăng 53-61% so với năm 2016 (Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng và vịnh Hạ Long). Có những di tích phạm vi không lớn ở Hà Nội như: Văn miếu Quốc Tử Giám, năm 2017 thu từ phí tham quan đạt 46 tỷ; đền Ngọc Sơn hơn 27 tỷ; Nhà tù Hỏa Lò 9,8 tỷ đồng. Nếu tính cả nguồn thu từ vé tham quan của hơn 13.500 di tích đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh – thành phố, cấp quốc gia và cấp quốc gia đặc biệt, cùng với hơn 160 bảo tàng công lập và ngoài công lập thì nguồn thu từ kết quả hoạt động phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh và các bảo tàng cả nước không hề nhỏ, góp phần có ý nghĩa vào sự phát triển bền vững kinh tế – xã hội (8).

Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị đã đánh giá: “Mười lăm năm qua, ngành Du lịch đã có bước phát triển rõ rệt và đạt được những kết quả quan trọng, rất đáng khích lệ. Tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đạt 10,2%/ năm, khách du lịch nội địa đạt 11,8%/ năm. Năm 2016, số lượng khách du lịch quốc tế đạt 10 triệu lượt người, tăng hơn 4,3 lần so với năm 2001; khách du lịch nội địa đạt 62 triệu lượt người, tăng 5,3 lần so với năm 2001; đóng góp trực tiếp ước đạt 6,8% GDP, cả gián tiếp và lan tỏa đạt 14% GDP” (9).

Chức năng văn hóa: Du lịch là một bộ phận của nền văn hóa đáp ứng nhu cầu hoạt động vui chơi, giải trí, thỏa mãn đời sống tinh thần của con người, tái tạo sức lao động sau những ngày, giờ lao động bắt buộc, căng thẳng, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng con người phát triển toàn diện.

Hiện nay, có rất nhiều loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch tâm linh… Căn cứ vào cách thức du lịch, có thể chia: Du lịch theo sở thích, ý muốn: ý muốn chung như vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng, tham quan. Ý muốn theo sở thích cá nhân như du lịch sinh thái, mạo hiểm, thể thao, tìm hiểu văn hóa tộc người, tâm linh, mua sắm, chữa bệnh; Du lịch theo nghĩa vụ, trách nhiệm: chữa bệnh, công vụ, thương mại, hội nghị, hội thảo… Cũng có thể chia: Du lịch nhanh: hình thức du lịch đi theo tour thăm thú nhiều điểm; Du lịch chậm, trải nghiệm: hình thức du lịch trải nghiệm, tham gia các sinh hoạt của cộng đồng, tìm hiểu sâu vấn đề cần quan tâm.

Gần đây xuất hiện một số mô hình du lịch như: Du lịch thông minh ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ thông tin vào hoạt động và quản lý du lịch để hoạt động du lịch được nhanh chóng, tiện ích và tiết kiệm; Du lịch xanh gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.

3. Mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển du lịch

Ngày 16-1-2017, Bộ Chính trị khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Nghị quyết đề ra 5 quan điểm chỉ đạo, trong đó có quan điểm: “Phát triển du lịch bền vững; bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa và các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bảo vệ môi trường và thiên nhiên; giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và an sinh xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội” (10).

Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.

Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới. Mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa… riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó.

Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai” được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới – WCED (nay là Ủy ban Brundtland).

Tại Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hiệp quốc ở Rio de Janeiro năm 1992, Tổ chức Du lịch thế giới định nghĩa về du lịch bền vững là: “Việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai” (11). Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ.

Nghị quyết số 08 đặt ra mục tiêu: “Đến năm 2020, ngành Du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội; có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực. Thu hút được 17-20 triệu lượt khách du lịch quốc tế, 82 triệu lượt khách du lịch nội địa; đóng góp trên 10% GDP, tổng thu từ khách du lịch đạt 35 tỷ USD; giá trị xuất khẩu thông qua du lịch đạt 20 tỷ USD; tạo ra 4 triệu việc làm, trong đó có 1,6 triệu việc làm trực tiếp. Phấn đấu đến năm 2030, du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác. Việt Nam thuộc nhóm các nước có ngành Du lịch phát triển hàng đầu khu vực Đông Nam Á” (12).

Ngày 22-1-2013, Thủ tưởng Chính phủ có Quyết định số 201/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030. Quy hoạch nêu 5 quan điểm phát triển, trong đó có quan điểm (phát triển du lịch bền vững), đồng thời nêu các chỉ tiêu phát triển ngành.

“Khách du lịch: Năm 2015 thu hút 7,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế, phục vụ 37 triệu lượt khách nội địa, tăng trưởng khách quốc tế 8,4%/ năm và nội địa 5,7%/ năm; năm 2020 thu hút 10,5 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 47,5 triệu lượt khách nội địa; tăng trưởng khách quốc tế là 7%/ năm, nội địa là 5,1%/ năm; năm 2025 thu hút 14 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 58 triệu lượt khách nội địa, tăng trưởng tương ứng 6% và 4,3%/ năm; năm 2030 thu hút 18 triệu lượt khách quốc tế và 71 triệu lượt khách nội địa, tăng trưởng tương ứng 5,2% và 4,1%/ năm.

Tổng thu từ khách du lịch: năm 2015 đạt 207 nghìn tỷ đồng, tương đương 10,3 tỷ USD; năm 2020 đạt 372 nghìn tỷ đồng, tương đương 18,5 tỷ USD; năm 2025 đạt 523 nghìn tỷ đồng, tương đương 26 tỷ USD; năm 2030 đạt 708 nghìn tỷ đồng, tương đương 35,2 tỷ USD. Đóng góp của du lịch trong GDP: năm 2015, du lịch chiếm 6% tổng GDP cả nước; năm 2020, chiếm 7%; năm 2025, chiếm 7,2% và năm 2030, chiếm 7,5%” (13).

Chúng ta cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc rằng: Các sản phẩm văn hóa của quốc gia, nhất là các di sản văn hóa của cha ông để lại cho chúng ta hôm nay là tài sản vô giá của quốc gia (Nghị quyết Trung ương 5), là nguồn vốn, tiềm năng và là tài nguyên cho phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.

Tài nguyên du lịch là những giá trị văn hóa tồn tại, hiện hữu ở điểm/ khu du lịch dưới dạng hữu hình, cái du khách thấy được và dưới dạng vô hình mà du khách nghe và cảm nhận được qua tiếp xúc với người dân ở điểm du lịch qua lời kể và biểu hiện ở các sinh hoạt văn hóa phi vật thể.

Tháng 6-2014, Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước ra đời. Nghị quyết này thể hiện tầm nhìn, tư duy sâu sắc của Đảng về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, đặt nhiệm vụ bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc trong mối quan hệ với phát triển kinh tế – xã hội, phát triển du lịch: “Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh tế – xã hội. Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển du lịch” (14).

Giá trị của tài nguyên du lịch quyết định chất lượng của điểm du lịch, thu hút sự chú ý, tìm tòi của khách du lịch. Do vậy, chúng ta cần phải bảo vệ sự toàn vẹn của tài nguyên du lịch. Việc khai thác tài nguyên du lịch là cần thiết để phục vụ hoạt động du lịch nhưng không có nghĩa là chúng ta khai thác theo lối tận diệt làm cạn kiệt, hao tổn giá trị của tài nguyên du lịch. Vốn văn hóa của tài nguyên du lịch do cha ông sáng tạo ra và trao truyền cho thế hệ hôm nay là thứ kết tinh trí tuệ, cảm xúc, tài năng, kinh nghiệm, của thế hệ trước, một khi nó bị mất đi không dễ gì tái tạo lại hoặc nếu có tái tạo thì nó cũng dễ bị mất đi tính nguyên gốc, toàn vẹn giá trị của tài nguyên du lịch vốn có thuở ban đầu, từ đó làm giảm đi giá trị văn hóa của tài nguyên du lịch.

Phát triển du lịch không vì mục tiêu kinh tế mà làm phương hại đến bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa của dân tộc. Hoạt động du lịch phải bảo vệ và giữ gìn được tính nguyên gốc, tính chân xác lịch sử của các sản phẩm di sản văn hóa, là cách bảo lưu nguồn vốn cho du lịch phát triển, bởi di sản văn hóa là nguồn tài nguyên không dễ tái tạo.

Nếu chúng ta không biết bảo vệ để nguồn tài nguyên di sản bị chính chúng ta vô tâm làm cạn kiệt đến mất đi thì sau này đời sống kinh tế khá lên, chúng ta có tiền cũng không thể lấy lại được. Giữ được di sản văn hóa chẳng những giữ hồn cốt của dân tộc, mà còn tạo điểm đến cho hoạt động du lịch mang lại lợi ích thiết thực về kinh tế, xã hội cho đất nước, cho nhân dân địa phương. Hoạt động du lịch di sản văn hóa, phải thừa nhận di sản văn hóa là tài sản vô giá cho du lịch, phải làm mọi cách giữ cho được giá trị của di sản và có kế hoạch khai thác hợp lý di sản văn hóa, nguồn tài nguyên quý giá của quốc gia phục vụ nhu cầu của khách du lịch. Chúng ta phản đối cách làm du lịch chỉ nhằm đến lợi nhuận mà không tính đến bảo tồn di sản, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên di sản.

Đối với các sản phẩm văn hóa đương đại như tổ chức các lễ hội, sự kiện văn hóa du lịch chúng ta cần đặc biệt quan tâm đến xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh để mỗi điểm du lịch, khách đến tham quan thưởng ngoạn thực sự là điểm đến hấp dẫn, thân thiện, chan hòa tình nghĩa con người với con người. Giá trị cao nhất của văn hóa trong các quan hệ xã hội là tình người. C.Mác đã đưa ra định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là sự phát triển các lực lượng bản chất người của con người nhằm vươn tới sự hoàn thiện con người, xã hội theo hướng nhân bản hóa” (15).

Sự cởi mở, chân tình, thân thiện với khách du lịch của cán bộ, người dân ở điểm du lịch là yếu tố gây thiện cảm, ấn tượng sâu sắc trong tâm trí du khách, là cái để du khách hứa hẹn sẽ còn trở lại với điểm du lịch.

Khắc phục tình trạng phát triển du lịch nóng, yếu kém trong công tác quản lý như tạo ra sự quảng cáo sản phẩm du lịch không đúng như quảng cáo, thiếu chu đáo, chất lượng dịch vụ phục vụ không tương xứng với đồng tiền họ bỏ ra.

Các đơn vị tổ chức du lịch cần minh bạch thông tin cho du khách biết, nói rõ những điều du khách cần ứng xử khi đi du lịch để ngăn chặn, loại bỏ những xung đột giữa khách du lịch với những người làm dịch vụ tại điểm du lịch. Các tổ chức du lịch cần có thái độ, trách nhiệm với các tổ chức ở điểm du lịch đồng hành xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, hỗ trợ một phần lợi nhuận từ hoạt động du lịch để bảo tồn và khai thác giá trị của di sản văn hóa phục vụ khách du lịch và góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, trở thành điểm du lịch đáng đến của khách du lịch.

Ngày nay, vấn đề bảo vệ môi trường trở thành vấn đề sống còn đối với mỗi quốc gia, do vậy phát triển du lịch phải coi trọng việc xây dựng văn hóa bảo vệ môi trường sinh thái. Một số tác giả đưa ra khái niệm phát triển du lịch xanh, loại hình du lịch bảo vệ được môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu và xử lý có hiệu quả các nguồn gây ô nhiễm từ hoạt động du lịch. Các cơ sở dịch vụ du lịch sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, sản phẩm tái chế, ứng dụng công nghệ sạch để hạn chế ô nhiễm môi trường, giảm thiểu rác thải khí nhà kính.

Để thực hiện được mục tiêu phát triển du lịch bền vững đòi hỏi sự quan tâm cụ thể của các cấp ủy Đảng, chính quyền. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng phát triển du lịch văn hóa của Đảng phù hợp với mỗi vùng miền. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch. Các phương tiện thông tin đại chúng đề ra chiến lược truyền thông thường xuyên, liên tục nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân dân về chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về hoạt động du lịch, văn hóa. Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tự quản của người dân khi tham gia các dịch vụ du lịch văn hóa, đa dạng các sản phẩm du lịch, gia tăng các giá trị văn hóa trong hoạt động du lịch hướng tới văn minh, nhân văn. Phổ biến nhân rộng các mô hình hoạt động du lịch giữ gìn được bản sắc văn hóa tộc người, vùng miền. Xử lý kiên quyết, kịp thời những biểu hiện du lịch phản văn hóa, “thương mại hóa” làm biến dạng, nhạt nhòa giá trị văn hóa. Xây dựng môi trường du lịch hội tụ và lan tỏa giá trị, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đất nước, con người Việt Nam.

4. Kết luận

Văn hóa là tổng thể sáng tạo của con người trong quá khứ và hiện tại. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh của quốc gia, là sức mạnh mềm trong các quan hệ quốc tế. Du lịch là một lĩnh vực hoạt động của văn hóa, một ngành kinh tế tổng hợp, đáp ứng nhu cầu tinh thần của đời sống con người. Hiện nay có rất nhiều loại hình du lịch, trong đó du lịch sinh thái nhân văn và du lịch văn hóa đang thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Văn hóa và du lịch có quan hệ chặt chẽ với nhau. Văn hóa là nguồn vốn, tài nguyên vô giá cho du lịch phát triển. Phát triển du lịch hiện nay phải trên nguyên tắc phát triển bền vững, góp phần bảo vệ và phát huy các giá trị của văn hóa và bảo vệ môi trường sinh thái. Chúng ta phải coi trọng xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh ở các điểm du lịch, lấy con người văn hóa là trung tâm cho phát triển du lịch.

_________________________

1, 2. Thập kỷ thế giới phát triển văn hóaBộ Văn hóa Thông tin và Thể thao xuất bản, 1992, tr.23, 25.

3. Ban Chỉ đạo Trung ương Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóaNxb Văn hóa – Thông tin, 2015, tr.16.

4. Toàn văn phát biểu của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốchanoimoi.com.vn, 24-11-2021.

5. Luật Du lịch, 2017.

6, 7. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chương trình hành động của Chính phủ, của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình, Hà Nội, 2008, tr.308, 295.

8. Lưu Trần Tiêu, Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vì sự phát triển bền vững, hdll.vn, 20-12-2018.

9, 14. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nướcdangcongsan.vn, 11-6-2014.

10, 12. Nghị quyết số 08-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, 2017.

11. Thế Đạt, Du lịch và du lịch sinh thái, Nxb Lao động, Hà Nội, 2003, tr.17.

13. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030, 2013.

15. C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995.

Tài liệu tham khảo

1. Trần Thúy Anh (chủ biên), Triệu Thế Việt, Nguyễn Thu Thủy, Phan Thị Bích Thúy, Giáo trình du lịch văn hóa những vấn đề lý luận và nghiệp vụ, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2011.

2. Nguyễn Thị Chiến, Văn hóa trong phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, Nxb Trẻ, 2004.

3. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Văn bản của Đảng và Nhà nước về nếp sống văn hóa, Hà Nội, 2008.

4. Luật Du lịch, 2005.

5. Nguyễn Trùng Khánh, Nghiên cứu loại hình du lịch tâm linh ở Việt Nam, đề tài cấp Bộ năm 2011-2012, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

6. Hoàng Văn Thành, Giáo trình Văn hóa du lịch, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2014.

7. Chiến lược phát triển du lịchluatvietnam, 2020.

 


Tác giả: