KHẢO SÁT THỰC TẾ NGHỆ THUẬT MÚA KHƠME NAM BỘ

KHẢO SÁT THỰC TẾ NGHỆ THUẬT MÚA KHƠME NAM BỘ

00:00:00 14/09/2014
400

      Nền văn hóa Khơmer Nam Bộ tiêu biểu là nghệ thuật múa, có chịu sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Ðộ, Lào, Thái Lan, Campuchia nhưng mang đậm nét dân tộc với những sáng tạo độc đáo đã góp vào vườn hoa nghệ thuật trong vườn hoa muôn sắc của các dân tộc Việt Nam.


Qua đợt khảo sát thực tế tại hai tỉnh Trà Vinh và Sóc trăng vừa qua, do Hội Nghệ sỹ múa Việt Nam tổ chức cho các giảng viên, giảng day bộ môn múa dân gian các dân tộc tại các trường nghệ thuật trên toàn quốc. Chuyến khảo sát thực sự rất bổ ích có giá trị rất lớn về cách nhìn nhận đánh giá giúp cho các giảng viên hiểu biết sâu rộng hơn, cụ thể hơn về những giá trị cốt lõi trong hệ thống giáo trình múa Khome đã có sẵn, đồng thời qua đợt khảo sát thực tế se ý thức hơn về những giá trị trong công tác đào tạo múa tại các trường nghệ thuật trên toàn quốc.

 

Múa của người Khơmer xuất hiện rất sớm đó là loại hình sân khấu Rơbăm – loại kịch hát cổ điển, và nghệ thuật múa chính là ngôn ngữ chủ đạo để diễn tả tâm trạng, tình huống, tuồng tích. Rơbăm phần lớn là những cốt chuyện mang truyền thuyết thần thoại cho nên nghệ thuật múa càng có điều kiện phát huy một cách mạnh mẽ ở loại hình sân khấu này.

 

Tiếp đó là sự ra đời của kịch hát Dukê. Nghệ thuật múa ở đây không còn giữ vai trò chủ đạo như Rơbăm nhưng đã bắt đầu phát triển chiều hướng diễn tả nội tâm với tâm trạng mang tính mô phỏng, có tính cách được ước lệ cao, như diễn tả những con thú: chim thần (Krud), chằn (Yeak), rắn thần (Naga), khỉ (Hanuman), rồng (Phuchông)…Từ đó các động tác được hệ thống, qui nạp mang tính khoa học, có sự đăng đối hài hòa, mực thước, có tính ổn định về tiết tấu, nhịp độ. Và đồng nghĩa với sự hình thành với hai hình thái rõ rệt, đó là hình thái múa cung đình và hình thái múa dân gian. Hình thái múa cung đình đã trở thành loại múa có bài bản, chuẩn mực, có hệ thống cơ bản, có đào tạo dạy nghề hoặc có thầy, cha mẹ chỉ giáo truyền nghề cho các thế hệ con cháu từ lúc còn nhỏ.

 

Nghệ thuật múa cung đình đòi hỏi ở người diễn viên cần có sự khổ luyện rất cao. Từ hình thể, tay, chân đến điệu bộ nụ cười ánh mắt đều phải tập theo những chuẩn mực cổ điển. Tất cả những chi tiết như đường nét, luật động động tác, sự phối kết hợp của toàn thân  cùng sự đồng điệu với âm nhạc đều rất cụ thể, đó chính là sự chuẩn mực rất cơ bản để đánh giá đẳng cấp của một người nghệ sỹ. Múa cung đình phần lớn là nữ, những nhân vật nam cũng chính là nữ đóng. Múa cung đình tuyến đơn giản, tiết tấu chậm rãi, khoan thai, sâu lắng, chủ yếu dùng hình tượng cơ thể để khắc họa tâm trạng như múa: chim thần (Krud), tiên (Kennâr), Apsara, dâng hoa… Còn có những loại múa lâu đời đậm màu sắc tôn giáo như múa lên đồng (arak), có những loại múa trong đám cưới (râmbơk bông, râm bơk phka sla, rambô kântel…). Từ những diễn tả tâm trạng bằng hình tượng

 

 

cơ thể, từ ngón tay cho đến gót, ngón chân đều có tiếng nói riêng và dần dần những động tác múa được qui nạp chuẩn mực thêm và nó hiển nhiên trở thành vị trí quán xuyến như một đặc trưng đậm bản sắc. Như vậy có thể nói múa cung đình Khơmer Nam Bộ là hình thức múa cung đình có tính  mực thước, trang trọng mang đậm tính cổ kính.

 

   Còn  múa dân gian thì ngược lại, thoải mái, lạc quan, yêu đời và luôn có chất hóm hỉnh, hài hước phản ánh những nội tại của cuộc sống hiện tại không khoa trương, hoa mỹ: Múa Sarikakeo, Râmvông, Saravan… là những điệu múa rất phổ biến, đã là người Khmer ai cũng biết múa, đặc biệt là thanh thiếu niên, họ múa trong các buổi sinh hoạt cộng đồng, lễ hội, liên hoan, bất kỳ nơi đâu chỉ cần có tiếng kèn và nhịp trống nổi lên là ở đó có múa. Trong thời gian gần đây một số nghệ sỹ đã mạnh dạn biên tập phóng tác một số động tác múa sinh hoạt cộng đồng được đồng nghiệp và người dân hết sức ủng hộ hưởng ứng.

 

    Ngoài ra nười Khome còn có múa trống Xadam cũng là điệu múa dân gian đã có từ lâu đời, có thể nói rất ít các tộc người trên lãnh thổ Việt Nam có hình thức diễn sướng giữa nhạc cụ gắn liền với luật động tác múa, sự hòa quện giữa âm thanh, tiết tấu, những kỹ thuật điêu luyện của người vừa đánh trống vừa múa là cách thể hiện rất độc đáo.

 

Trong thực tế, thỉnh thoảng múa dân gian đã tiếp thu những tinh hoa đặc sắc từ những động tác múa cung đình rồi biến hóa cùng  tiết tấu và hòa quyện vào không khí của từng tác phẩm với nội dung phản ảnh cuộc sống, làm cho nó trở nên nhanh nhẹn, vui vẻ như múa “gáo”, “xúc tép” (Saneng).

 

Hiện nay múa của tộc người Khmer Nam Bộ đã phát huy một cách mạnh mẽ, không chỉ về thể loại, số lượng mà cả chất lượng, không chỉ với những đề tài cổ thần thoại, truyền thuyết mà cả những đề tài ca ngợi cuộc sống hiện tại. Và nền nghệ thuật múa độc đáo ấy không dừng lại với những tác phẩm đơn lẻ mà gần đây đã xuất hiện kịch múa với những cốt truyện hấp dẫn đã được đánh giá cao đạt (huy chương Vàng) trong các kỳ hội diễn chuyên nghiệp toàn quốc, có những người đã được nhà nước phong tặng NSƯT, như NS Thạch Vông, NS Lâm Vĩnh Phương, NS Thạch Thị Than, NS Thạch Sung, NS Kim Lim Mét….

 

Kho tàng múa tộc người Khmer Nam Bộ quả là vô tận, nó luôn có mặt bất cứ ở phum, sóc, làng, xã nào nó đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của đồng bào Người Khmer tại hai tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng nói riêng và vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Hy vọng những giá trị đó sẽ mãi trường tồn và phát triển bền vững.


Tác giả: