GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG – DẤU ẤN BẢN SẮC DÂN TỘC

GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG – DẤU ẤN BẢN SẮC DÂN TỘC

00:00:00 01/04/2014
238

(Cinet) – Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng từ lâu đã trở thành biểu tượng văn hóa tâm linh, tín ngưỡng, điểm hội tụ tinh thần đại đoàn kết của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và đi sâu vào tiềm thức mỗi người dân đất Việt, giáo dục đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” biết ơn sâu sắc các Vua Hùng và các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước.

Là người con đất Việt, dù ở phương trời nào, cứ mỗi độ tháng 3 về, lòng mỗi chúng ta không khỏi trào dâng cảm xúc, bồi hồi xúc động khi hướng về vùng đất Cội nguồn, thành kính dâng lên cácVua Hùng những nén tâm nhang. 


“Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày giỗ Tổ mồng Mười tháng Ba” đã trở thành lời nhắn gửi, nhắc nhở mọi người dân Việt tìm về lễ hội thiêng liêng, thành kính: Giỗ Tổ Hùng Vương.
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương xuất phát từ quan niệm tín ngưỡng dân gian, lòng thành kính và thái độ biết ơn của con cháu đối với tổ tiên, là kết quả của sự đan xen giữa lịch sử 4000 năm nước Đại Việt và huyền thoại Hùng Vương. Việc thờ cúng Hùng Vương đã tồn tại trong đời sống cộng đồng người Việt hàng ngàn năm nay và là nét đẹp của truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, tỏ lòng biết ơn những bậc tiền nhân có công dựng nước. Tín ngưỡng thờ Hùng Vương là đỉnh cao tâm thức dân tộc và Giỗ tổ Hùng Vương đã trở thành lễ hội văn hóa lớn của dân tộc. Lễ hội Đền Hùng là sự thể hiện một tín ngưỡng “độc nhất vô nhị” trong tâm thức dân gian Việt Nam: tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Trải qua thời gian, vượt qua các thể chế chính trị, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã vận động, biến đổi và trở thành một hiện tượng văn hóa-tín ngưỡng đa nghĩa, đa giá trị.
Ở phương diện xã hội, giá trị của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là sự thể hiện tính cố kết cộng đồng, truyền thống đoàn kết dân tộc. Có thể coi tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương như một sợi chỉ đỏ nối kết quá khứ với hiện tại, là bệ đỡ tâm linh cho các thế hệ con người Việt Nam. Bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong gia tộc, như một lẽ tự nhiên, người Việt thờ cúng Hùng Vương như một vị thủy tổ của dân tộc. Bốn chữ “Nam Việt triệu tổ” ở đền Thượng tọa lạc trên núi Nghĩa Lĩnh thể hiện sâu sắc quan niệm ấy của người Việt Nam. Trong tâm thức dân gian, trong quan niệm của các vương triều quân chủ, Hùng Vương là vị thánh tổ, thánh vương có công lao khởi dựng Nhà nước Văn Lang cổ đại. Suốt trong chiều dài lịch sử, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là tín ngưỡng phát triển giữa hai chiều lực tác động: thái độ của các vương triều và thái độ của dân chúng. Có thể thấy rằng, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, tự bản chất của nó có sự gặp gỡ đồng thuận sâu sắc giữa các vương triều và thái độ của người dân.


Vị thế của một vị thánh vương, với tư cách là một thủy tổ của dân tộc đã tạo ra sự đồng thuận này. Từ nhà Lê đã cho biên soạn ngọc phả “Hùng đồ thập bát diệp thánh vương ngọc phả cổ truyền” vào năm Nhâm Thìn (1472), trong đó ghi chép các thần tích về Hùng Vương. Các vương triều kế tiếp như nhà Lê-Trịnh, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn (1802-1945) nhiều lần phong sắc cho các làng xã ở Phú Thọ thờ cúng Thánh tổ Hùng Vương, cấp đất đai cho các làng xã cấy trồng, lấy hoa lợi thờ cúng Hùng Vương. Trước năm 1945, nhà Nguyễn vẫn duy trì việc giao cho quan lại tỉnh Phú Thọ về chủ trì các nghi lễ thờ cúng Hùng Vương ở các ngôi đền trên núi Nghĩa Lĩnh. Sau năm 1945, Đảng, Nhà nước ta rất coi trọng việc duy trì lễ hội đền Hùng và thờ cúng Hùng Vương. Năm 1956, lễ hội Đền Hùng được tổ chức trọng thể. Từ ấy đến nay, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc thờ cúng Hùng Vương thể hiện trên nhiều phương diện. Mặt khác, thái độ của người dân qua các thế hệ với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương lại là một chiều lực tác động từ dưới lên khiến tín ngưỡng này phát triển trong sâu rộng lịch sử. Thế kỷ XVII, “Nam Việt thần kỳ hội lục” cho biết có 73 làng thờ cúng Hùng Vương, trong đó có 11 làng đã có sắc phong. Năm 1973, nếu chỉ tính từ Việt Trì đoạn từ ngược sông Thao lên đến Hạ Hòa, ngược sông Đà lên đến Thanh Thủy, ngược sông Lô lên đến Đoan Hùng thì ít nhất cũng có 432 di tích, trong đó có đền miếu thờ vua Hùng là 40, vợ con các vua Hùng là 77, thờ Cao Sơn, Tản Viên và các tướng lĩnh là 288 và 87 di tích khác có liên quan đến các sự kiện lịch sử thời các vua Hùng. Thái độ tôn kính Hùng Vương, với tư cách là thủy tổ của dân tộc, theo đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của người dân các thế hệ khiến cho tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương phát triển sâu rộng. Trong hệ thống các tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, khó có tín ngưỡng nào có được đặc trưng ấy. Có lẽ, tính cố kết cộng đồng, nhận thức về một ông Tổ của đất nước là cơ sở tạo ra đặc trưng ấy của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ. Và ít nhất, hơn 600 năm trôi qua, Hùng Vương được tín tưởng và thờ cúng trong tư cách như vậy. Giá trị dễ nhận thấy của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là giá trị lịch sử. Tín ngưỡng không phải là lịch sử đích thực, mà là lịch sử hiện lên, ánh xạ qua cảm xúc, qua niềm tin, là ý thức của người dân về lịch sử. Nói đến một tín ngưỡng là nói đến niềm tín tưởng vào một nhân vật phụng thờ. Nhân vật phụng thờ của tín ngưỡng bao giờ cũng được người dân nâng vào cõi thiêng vừa huyền ảo, vừa kỳ bí. Thiêng hóa nhân vật phụng thờ là công việc người dân trong trường kỳ lịch sử thực hiện để nhân vật trở thành thiêng liêng, họ đã lịch sử hóa và huyền thoại hóa nhân vật phụng thờ. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là kết quả của quá trình lịch sử hóa và huyền thoại hóa đan xen một cách hài hòa. Quá trình lịch sử hóa diễn ra một cách sâu sắc. Trên vùng đất Phú Thọ, người Việt cổ đã trải qua nhiều nền văn hóa khác nhau. Vị thế địa- văn hóa, địa- chính trị của tỉnh Phú Thọ khiến cho nơi đây xuất hiện những nền văn hóa khảo cổ khác nhau: từ văn hóa Sơn Vi mà các nhà khảo cổ xếp vào văn hóa thời kỳ đồ đá đến văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, mà các nhà khảo cổ xếp vào văn hóa thời kim khí. Các nhà khoa học hoàn toàn có lý khi khẳng định: Phú Thọ là vùng đất liên quan đến Nhà nước Văn Lang cổ đại, là trung tâm khởi phát của người Việt cổ. Chính nền tảng lịch sử ấy là khởi hình lịch sử cho một thời đại Hùng Vương. Và một quá trình huyền thoại hóa xuất hiện. Phú Thọ là địa phương đứng đầu trong cả nước có một kho tàng văn hóa dân gian về thời Hùng Vương. Như thế, quá trình lịch sử hóa, huyền thoại hóa tương tác lẫn nhau, càng làm cho nhân vật phụng thờ của tín ngưỡng càng thêm thiêng liêng. Trong tâm thức dân gian của cộng đồng cư dân Phú Thọ, Hùng Vương vừa là vị thủy tổ, vừa là thánh vương, vừa là người lập nước nhưng cũng là người chăm lo cuộc sống cho dân, vừa thiêng liêng lại gần gũi, có mặt với cộng đồng ở mọi tình huống của cuộc đời của mỗi con người, trong cuộc sống của cộng đồng theo vòng quay của thiên nhiên và mùa vụ. Thông qua tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, có thể thấy lịch sử thời dựng nước của người Việt, của Việt Nam. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là một sáng tạo tự nhiên của người Việt qua trường kỳ lịch sử, sáng tạo này mang tầm kiệt tác của nhân loại. Bởi vậy, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là một truyền thống văn hóa cần được bảo tồn và phát huy, và tự thân quá trình phát triển của nó trong lịch sử đã được các thế hệ người dân bảo tồn, biến thành tài sản văn hóa, đồng hành cùng thực tại, để bước vào tương lai. Giỗ Tổ Hùng Vương trong dòng chảy lịch sử dân tộc Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng là lễ hội truyền thống của dân tộc Việt Nam, và có một đặc thù riêng là: Phần lễ nặng hơn phần hội. Tâm tưởng người về dự hội là hướng về tổ tiên, cội nguồn với sự tôn kính và lòng biết ơn sâu sắc (Ẩm hà tư nguyên – Uống nước nhớ nguồn). 41 làng xã thuộc tỉnh Vĩnh Phú (trước đây, Phú Thọ ngày nay) tham gia rước kiệu lễ dâng Tổ. Từ ngàn xưa, trên các cổ kiệu có bày lễ vật, đi kèm có phường bát âm tấu nhạc, cờ quạt, bát bửu, lọng che cùng chiêng trống. Những làng ở xa thường phải rước 2-3 ngày mới tới” . “Xưa kia, việc cúng Tổ (cử hành) vào ngày 12 tháng 3 (âm lịch) hằng năm. Thường khi con cháu ở xa về làm giỗ trước một ngày, vào ngày 11 tháng 3 (âm lịch)… Đến thời nhà Nguyễn định lệ 5 năm mở hội lớn một lần (vào các năm thứ 5 và 10 của các thập kỷ), có quan triều đình về cúng tế cùng quan hàng tỉnh và người chủ tế địa phương cúng vào ngày 10 tháng 3 (âm lịch). Do đó ngày giỗ Tổ sau này mới là ngày 10 tháng 3 (âm lịch) hàng năm”. (Trích Hùng Vương và Lễ Hội Đền Hùng-NXB Hội nhà văn)

Những năm hội chính thì phần lễ gồm: Tế lễ của triều đình sau đó là phần lễ của dân. Có 41 làng được rước kiệu từ đình làng mình tới Đền Hùng. Đó là những cuộc hành lễ thể hiện tính tâm linh và nhân văn sâu sắc. Các kiệu đều sơn son thếp vàng, chạm trổ tinh vi, được rước đi trong không khí vừa trang nghiêm vừa vui vẻ với sự tham gia của các thành phần chức sắc và dân chúng trong tiếng chiêng, trống, nhạc bát âm rộn rã một vùng. Phần hội gồm các trò chơi dân gian như đánh vật, đu tiên, ném còn, cờ người, bắn cung nỏ… và đặc biệt là các đêm hát xoan, hát ghẹo – hai làn điệu dân ca độc đáo của vùng đất Châu Phong. Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đánh dấu bước ngoặt lịch sử mới của dân tộc ta. Kế tục truyền thống cao đẹp của cha ông, nhất là đạo lý “uống nước nhớ nguồn” nên giỗ Tổ Hùng Vương 1946 – sau khi Chính phủ mới được thành lập – là một sự kiện hết sức đặc biệt, đáng ghi nhớ. Năm ấy, cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phó Chủ tịch nước, đã thay mặt Chính phủ VNDCCH lên làm lễ dâng hương tại Đền Hùng. Cụ mặc áo the, khăn xếp, khấn vái theo lễ tục cổ truyền. Cụ còn trang trọng dâng lên bàn thờ tấm bản đồ Việt Nam và thanh kiếm là hai vật báu nói lên ý chí của Chính phủ và nhân dân ta trước họa xâm lăng đang đe dọa trở lại. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, do chiến tranh ác liệt nên việc đèn hương nơi mộ Tổ do nhân dân vùng quanh Đền Hùng đảm nhiệm. Kháng chiến thắng lợi với thiên sử vàng Điện Biên Phủ (7-5-1954), ngày 19-9-1954, tại Đền Hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã căn dặn cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân tiên phong trước khi về tiếp quản thủ đô: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Lời căn dặn cũng là lời hứa quyết tâm ấy của vị đứng đầu đất nước, dân tộc đã được thực hiện vào mùa xuân 1975: Sau 30 năm gian khổ hy sinh, nhân dân ta đã quét sạch bọn xâm lược ra khỏi bờ cõi, giang san thống nhất, quy về một mối vẹn toàn. Có lẽ không một dân tộc nào trên thế giới có chung một gốc gác tổ tiên – một ngày giỗ Tổ như dân tộc ta. Từ huyền thoại mẹ Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, nửa theo cha xuống biển, nửa theo mẹ lên rừng đã khơi dậy ý thức về dân tộc, nghĩa đồng bào và gắn kết chúng ta thành một khối đại đoàn kết. Hai chữ đồng bào là khởi nguồn của yêu thương, đùm bọc, của sức mạnh Việt Nam. Mấy nghìn năm trông coi và gìn giữ, đánh giặc và dựng xây, Đền Hùng đã trở thành biểu tượng của tinh thần dân tộc, là cội nguồn của sức mạnh, niềm tin, chói sáng của một nền văn hóa. Từ trong ý thức tâm linh cả dân tộc luôn hướng về: “Nước mở Văn Lang xưa/ Dòng vua đầu viết sử/ Mười tám đời nối nhau/ Ba sông đẹp như vẽ/ Mộ cũ ở lưng đồi/ Đền thờ trên sườn núi/ Muôn dân đến phụng thờ/ Khói hương còn mãi mãi”. Lịch sử như một dòng chảy liên tục. Trải qua mấy nghìn năm, trước bao biến động thăng trầm, trong tâm thức của cả dân tộc, Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng vẫn là nơi của bốn phương tụ hội, nơi con cháu phụng thờ công đức Tổ tiên. Về với Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng, mỗi người dân Việt Nam, dù ở vùng núi, đồng bằng hay miền duyên hải đều cùng chung dòng máu Lạc Hồng lấy đoàn kết yêu thương, đùm bọc làm sức mạnh tinh thần. Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng là dịp để khẳng định truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, thắt chặt tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên toàn dân tích cực học tập, lao động sản xuất, cống hiến công sức, trí tuệ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày càng giàu mạnh, phồn vinh.   



Tác giả: